Bác Hồ thăm nhân dân xã Nam Cường,
huyện Tiền Hải, Tỉnh Thái Bình (tháng 3-1962)
Ảnh: TL
Nhiệm vụ đặt ra khi đó là: Đảng cần có Nghị quyết về đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc thống nhất cho phù hợp với Cương lĩnh và Hiến pháp mới, đồng thời thể hiện rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc trong tình hình mới vì Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác Mặt trận ban hành năm 1962 đến thời điểm này đã là 30 năm và Chỉ thị 17CT/TƯ ngày 18-4-1983 của Ban Bí thư "Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với MTTQ Việt Nam" cũng đã 10 năm.
Được sự chấp thuận của Bộ Chính trị, Đảng đoàn UBTƯ MTTQ Việt Nam cùng Ban Dân vận Trung ương phối hợp soạn thảo Nghị quyết do đồng chí Lê Quang Đạo – Bí thư Đảng đoàn phụ trách dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Vũ Oanh - Ủy viên Bộ Chính trị và đồng chí Trương Mỹ Hoa – Bí thư Trung ương Đảng. Để chuẩn bị cho Nghị quyết, sau khi tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 17, Ban Biên tập lần lượt tổ chức các cuộc họp để lấy ý kiến của các đồng chí trong Đảng đoàn các tổ chức thành viên của Mặt trận, các đồng chí phụ trách dân vận nhiều địa phương, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư các khóa, các đồng chí lão thành trong công tác Dân vận – Mặt trận và cuối cùng là xin ý kiến của đồng chí Phạm Văn Đồng và đồng chí Võ Chí Công – Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Dự thảo Nghị quyết gồm 3 phần chính:
Phần I: Yêu cầu về đại đoàn kết dân tộc trong tình hình mới. Phần II: Nhiệm vụ của Mặt trận dân tộc thống nhất. Phần III: Những giải pháp nhằm củng cố và mở rộng MTTQ Việt Nam. Ngoài 3 phần chính trên còn có đoạn mở đầu và phần kết thúc.
Về đoạn mở đầu, Dự thảo nêu bật những thành công của đại đoàn kết dân tộc từ khi Mặt trận dân tộc thống nhất ra đời đến sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đồng thời cũng nêu những thiếu sót, khuyết điểm để đi đến kết luận: Trong quá trình cách mạng, khi nào chúng ta biết nêu cao ngọn cờ dân tộc, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh quốc tế thì khó khăn đến mấy cách mạng nước ta cũng vượt qua, ngược lại khi nào yếu tố dân tộc bị xem nhẹ, mắc phải sai lầm trong đường lối và chính sách đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế thì cách mạng gặp khó khăn và trở ngại.
Song, theo yêu cầu của Bộ Chính trị, Nghị quyết cần ngắn gọn, nên đoạn này đã được sửa thành: "Đại đoàn kết là bài học lớn của cách mạng Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công".
A. Về đại đoàn kết dân tộc trong tình hình mới. Ban biên tập tập trung vào yếu tố dân tộc và nhấn mạnh: "Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, yếu tố dân tộc trở thành một đặc điểm cực kỳ quan trọng". Một sự kiện mới sau chiến tranh thế giới lần thứ hai là sự tan rã của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ và mới đồng thời cách mạng Việt Nam đã góp phần quan trọng vào sự tan rã đó. Trước tình hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và ở Đông Âu tan rã, phong trào cách mạng của giai cấp công nhân bước vào giai đoạn thoái trào đòi hỏi các dân tộc càng phải đoàn kết, ủng hộ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, cùng nhau giải quyết những vấn đề toàn cầu cấp bách, liên quan đến vận mệnh chung của loài người như giữ gìn hòa bình, bảo vệ môi trường, hạn chế sự bùng nổ dân số v.v…
Về tình hình trong nước, Dự thảo Nghị quyết nhận định: Đường lối đổi mới toàn diện đã tạo ra nhiều nhân tố tích cực. Đó là: "Đã thoát khỏi suy thoái, thoát khỏi một bước quan trọng trong tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội", đã có nhiều thuận lợi để tiến lên. Nhưng về cơ bản, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu, hiệu quả sản xuất xã hội còn rất thấp, lạm phát còn cao, bội chi ngân sách còn lớn, số người chưa có và thiếu việc làm còn nhiều. Đời sống nhân dân nói chung tuy có được cải thiện nhưng còn nhiều khó khăn. Tệ tham nhũng, buôn lậu còn lớn. Các tệ nạn xã hội có chiều hướng phát triển. Còn nhiều nhân tố gây mất ổn định.
Đường lối đổi mới đã tạo ra nhiều nhân tố mới tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất, nhưng cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề mới, mâu thuẫn mới cần được quan tâm giải quyết một cách thỏa đáng.
Trong những thay đổi điều đáng quan tâm nhất là sự thay đổi về cơ cấu xã hội, đã và đang xuất hiện nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau. Đặc biệt là xuất hiện và phát triển các nhà công ty tư nhân. (Một số ý kiến cho rằng đã hình thành giai cấp tư sản mới, một số lại nhận định mới hình thành tầng lớp tư sản mới) sau này, trong Nghị quyết của Bộ Chính trị xác định là các nhà công ty vì các nhà công ty này rất khác với giai cấp tư sản trước đây và cũng khác với giai cấp tư sản sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Giai cấp công nhân cũng có bước phát triển mới với nhiều thành phần như công nhân quốc doanh, công nhân tập thể, công nhân tư doanh, công nhân trong các công ty liên doanh với nước ngoài.
Giai cấp nông dân cũng phân hóa thành nhiều tầng lớp như giàu, trung bình, nghèo, chủ trang trại, người làm thuê. Vấn đề đặt ra là: "Khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng, hợp pháp và giúp nhau xóa đói, giảm nghèo", thực hiện Lời kêu gọi của Bác Hồ năm 1947 là: "Người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì tiến lên khá giả, người đã giàu thì giàu thêm".
Tầng lớp trí thức cũng có nhiều thay đổi, không còn "đồng nhất" như thời bao cấp mà có trí thức tư sản, trí thức tiểu tư sản, trí thức xã hội chủ nghĩa.
Cùng với công, nông, trí, doanh nhân còn có hơn 2 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài, hàng triệu người làm việc trong chế độ cũ ở miền Nam. Giữa họ với những người kháng chiến, cách mạng vẫn còn tồn tại ở những mức độ khác nhau định kiến, mặc cảm thậm chí cả hận thù.
Nước ta là nước đa dân tộc, đa tôn giáo. Tình hình đất nước thay đổi đang đặt ra nhiều vấn đề mới, phức tạp trong các dân tộc, các tôn giáo đòi hỏi phải giải quyết.
Với sự thay đổi, phát triển của xã hội như vậy, đứng trước thời cơ và thách thức mới, cần thực hiện cho được đại đoàn kết dân tộc, mở tầm cao mới và chiều sâu mới, tăng cường Mặt trận Dân tộc thống nhất để tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được để tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, làm thất bại mọi âm mưu hoạt động chia rẽ, phá hoại của các thế lực thù địch, tập trung thực hiện cho được nhiệm vụ cách mạng chủ yếu trước mắt là xây dựng và bảo vệ đất nước, làm cho nước ta sớm thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên dân giàu, nước mạnh, văn minh, giữ vững độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.
B. Về nhiệm vụ của Mặt trận Dân tộc thống nhất
Như Cương lĩnh "Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" đã chỉ rõ: "Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường. Mục tiêu của chặng đường đầu là thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới tình trạng ổn định vững chắc, tạo thế phát triển ở chặng sau". Trước mắt, cần đưa nước ta: "Ra khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI".
Mục tiêu của chặng đường đầu nêu trên cũng chính là mục tiêu của Mặt trận Dân tộc thống nhất trong giai đoạn đó.
Nghị quyết nêu 4 chủ trương lớn, đó cũng là 4 quan điểm, tư tưởng chỉ đạo quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam trong tình hình mới.
1. Về đoàn kết dân tộc: Nghị quyết chủ trương đoàn kết với tất cả những ai tán thành mục tiêu trên, chứ không chỉ đoàn kết với những người yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội như đã nói trong Chỉ thị 17CT/TƯ của Ban Bí thư trước đây.
- Chấp nhận những điểm khác nhau, miễn là những điểm đó không trái với lợi ích chung của xã hội, của dân tộc.
- Cũng trên cơ sở lấy mục tiêu chung làm điểm tương đồng, cùng nhau xóa bỏ định kiến, mặc cảm, hận thù.
2. Có mục tiêu chung là điều kiện tiên quyết, song đồng thời phải có những chủ trương, chính sách, luật pháp trên tất cả các lĩnh vực, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích chính đáng của các giai tầng xã hội nhằm không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống các tầng lớp nhân dân, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đồng thời xử lý hài hòa giữa lợi ích riêng với lợi ích chung và các mâu thuẫn nảy sinh trong nội bộ nhân dân.
3. Đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên kết công – nông - trí để xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh.
Nghị quyết nhấn mạnh: Thực hiện quyền làm chủ của mình, nhân dân có trách nhiệm bầu ra các cơ quan dân cử (Quốc hội, HĐND các cấp), tham gia xây dựng pháp luật, giữ gìn trật tự, kỷ cương v.v… xây dựng các quy chế, quy ước trên địa bàn dân cư liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ công dân; tham gia tuyên truyền và phổ biến pháp luật và các phong trào hành động cách mạng, tích cực tham gia đấu tranh chống tệ nạn quan liêu, cửa quyền gây phiền hà cho dân, chống tệ tham nhũng đang làm giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước.
Nghị quyết chủ trương: Mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc bằng những hình thức đa dạng thích hợp với từng giới, từng thành phần xã hội, từng địa phương, cơ sở.
- Cần thu hút được đông đảo người ngoài Đảng vào các tổ chức nhà nước, tổ chức kinh tế - xã hội và các đoàn thể nhân dân; cần phát huy vai trò tích cực của những người tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Trong khối đại đoàn kết dân tộc, công nhân và nông dân là lực lượng to lớn nhất; công nhân cùng trí thức là lực lượng tiên phong trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nông dân là lực lượng cơ bản để phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Vì vậy, đi đôi với mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất phải không ngừng củng cố liên kết công – nông – trí thực sự trở thành nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
C - Củng cố và mở rộng Mặt trận Tổ quốc
Đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc thống nhất là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị chứ không phải chỉ là trách nhiệm riêng của Mặt trận.
Căn cứ vào tình hình và nhiệm vụ cách mạng hiện nay, Nghị quyết xác định rõ thêm vị trí, vai trò, tính chất của Mặt trận.
1 – Mặt trận không phải là một đoàn thể, mà là liên kết chính trị, là tổ chức liên hiệp tự nguyện của các đoàn thể nhân dân và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo.
2- Mặt trận làm việc theo nguyên tắc: Hiệp thương dân chủ, hợp tác bình đẳng, đoàn kết chân thành, tôn trọng lẫn nhau, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên theo chương trình hành động chung.
Những nguyên tắc liên quan mật thiết với nhau, song quan trong nhất, cần nhấn mạnh nhất là: Hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên theo chương trình hành động chung.
3 – Về kiện toàn và mở rộng tổ chức Mặt trận, Nghị quyết yêu cầu: Tăng thêm những người tiêu biểu, có tín nhiệm và năng lực trong các giai tầng xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, giới trí thức, các công ty tư nhân. Bộ máy giúp việc Ủy ban Mặt trận các cấp cần gọn, nhẹ, trọng chất lượng, thu hút được nhiều chuyên gia giỏi vào từng lĩnh vực hoạt động của Mặt trận.
4- Về trách nhiệm của Nhà nước, Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận Dân tộc thống nhất.
5 – Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng.
Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định nhất trong sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc thống nhất.
Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo Mặt trận.
Là người lãnh đạo, Đảng phải thực hiện đúng vai trò tiên phong của mình là đề ra đường lối và các định hướng về chính sách đúng đắn, đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Bằng công tác tuyên truyền, vận động, Đảng tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ hưởng ứng của đông đảo nhân dân. Bằng công tác tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của cán bộ, đảng viên Đảng lôi cuốn mọi người cùng thực hiện. Đảng tôn trọng và phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ủng hộ mọi hoạt động tích cực, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể. Với tư cách thành viên, Đảng tôn trọng nguyên tắc làm việc của Mặt trận và gương mẫu chấp hành mọi chủ trương, chính sách, pháp luật gắn bó mật thiết với nhân dân, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình mà phải tỏ ra là bộ phận trung thành nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo".
Nghị quyết đã quy định cụ thể về phương thức lãnh đạo cũng như thực thi trách nhiệm thành viên của Đảng trong Mặt trận; định hướng tuyển chọn, bố trí và chính sách đối với cán bộ Mặt trận.
Để Nghị quyết thành hiện thực cuộc sống, điều quan trọng là làm cho mọi người, trước hết là cán bộ, đảng viên nhận thức rõ tầm quan trọng chiến lược của đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc thống nhất, khắc phục những quan điểm sai trái như coi nhẹ công tác Mặt trận, thái độ định kiến, hẹp hòi với người ngoài Đảng nhất là cần bố trí cán bộ ngang tầm với vị trí, vai trò, trách nhiệm của Mặt trận và có chính sách thỏa đáng.